Thời gian gần đây, có một số quan điểm khá phổ biến trong giới phụ huynh:
- Muốn con giỏi tiếng Anh thì phải bắt đầu bằng Phonics từ sớm
- Cần phải học với giáo viên bản ngữ
- Đọc thật nhiều thì sẽ nói lưu loát, và;
- Học tiếng Anh phải học từ sớm để tận dụng “độ tuổi vàng”.
Bài viết này phân tích từng quan điểm dưới cái nhìn của ngôn ngữ học ứng dụng (Applied Linguistic) và Tiếp thu ngôn ngữ thứ hai (Second Language Acquisition – SLA).
“MUỐN CON GIỎI PHẢI CHO HỌC PHONICS TỪ SỚM”?
Chưa có nghiên cứu nào chỉ ra muốn giỏi phải học Phonics cả. Rất nhiều trẻ KHÔNG HỌC PHONICS từ sớm, nhưng vẫn rất giỏi tiếng Anh.
Các nghiên cứu ngôn ngữ học chỉ ra, để con giỏi thì phải TIẾP XÚC VỚI NGÔN NGỮ THƯỜNG XUYÊN VÀ CHẤT LƯỢNG. Các nghiên cứu cũng chỉ ra, LỚP HỌC (EXPLICIT KNOWLEDGE) không khiên trẻ giỏi tiếng Anh. Thực hành thường xuyên mới là yếu tố quan trọng nhất.
Hiểu đơn giản, các con cần đầu vào (nghe – đọc) và đầu ra (nói – viết) và môi trường giao tiếp để thành thạo tiếng Anh. “Phonics” đứng ở đâu trong 4 kỹ năng này? Đó là một phần của kỹ năng decode từ (liên hệ mặt chữ – phát âm) trong kỹ năng ĐỌC. Biết “phonics” hỗ trợ phần nào việc học từ vựng (đặc biệt với trẻ đã phát âm tốt). Nhưng nó KHÔNG giúp cho trẻ phát âm, nghe, nói tiếng Anh tốt hơn.
Có quan điểm trong ngôn ngữ học ứng dụng cho rằng, dựa vào mặt chữ để “đoán” phát âm thậm chí còn có hại cho khả năng phát âm của trẻ. Quang ủng hộ quan điểm này.
PHONICS KHÔNG PHẢI LÀ PHÁT ÂM (KHÔNG GIÚP TRẺ NÂNG CAO KHẢ NĂNG NGHE/NÓI)
Đây là điều đầu tiên cần làm rõ vì rất nhiều người đang nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Phonics là phương pháp dạy mối quan hệ giữa chữ viết và âm thanh (đánh vần tiếng Anh), giúp trẻ nhìn mặt chữ và biết cách đọc to.
Mục tiêu của Phonics là **đọc**, chứ không phải **nói**. Trong khi đó, phát âm (pronunciation) nghiên cứu về cách nói tiếng Anh (bao gồm âm, trọng âm, giai điệu, ngữ điệu, giảm, nối, nuốt, biến âm, nói theo cụm…).
Nghiên cứu về đọc hiểu từ lâu đã khẳng định Phonics là một công cụ hiệu quả để phát triển khả năng ĐỌC ở trẻ, nhưng chưa từng kết luận rằng Phonics có thể thay thế việc học phát âm hay giao tiếp. Một đứa trẻ hoàn toàn có thể đọc từ theo quy tắc Phonics nhưng PHÁT ÂM SAI vì nhiều lý do, ví dụ, riêng ở cấp độ từ khóa, người học có thể:
- Không xác định đúng âm (tomb, comb, bomb)
- Không xác định đúng trọng âm (comfort, purchase, manage, adaptation…)
- Không xác định đúng âm tiết (vi.de.o, veget.ta.ble, inte.rest)
Chưa tính tới phát âm sai vì các yếu tố khác như nối âm, giảm âm, rhythm, intonation…
Mối liên hệ giữa Phonics và phát âm rất lỏng lẻo, đặc biệt, với trẻ Việt Nam học tiếng Anh. Lý do rất đơn giản: Phonics vốn được xây dựng cho TRẺ BẢN NGỮ. Một đứa trẻ Mỹ khi học Phonics đã nghe – nói tiếng Anh thành thạo từ nhiều năm trước; giáo viên chỉ giúp em kết nối những ÂM THANH EM ĐÃ BIẾT với HỆ THỐNG CHỮ VIẾT.
Với trẻ Việt Nam thì quá trình này diễn ra theo chiều ngược lại. Các em phải NHÌN VÀO MẶT CHỮ ĐỂ ĐOÁN PHÁT ÂM, NHƯNG LẠI CHƯA PHÁT ÂM ĐÚNG VÀ CHƯA GIAO TIẾP ĐƯỢC. Nếu đầu vào nghe không đủ thì việc học “Phonics” DỄ KHIẾN TRẺ HÌNH THÀNH THÓI QUEN PHÁT ÂM SAI VỀ LÂU DÀI, RẤT KHÓ SỬA.
ĐỌC TO KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI NÓI LƯU LOÁT
Quan điểm tiếp theo là “đọc to sẽ nói lưu loát” cũng bị đơn giản hóa quá mức.
Không ai phủ nhận rằng đọc là một trong những hoạt động quan trọng nhất để phát triển ngôn ngữ. Đọc giúp mở rộng vốn từ, giúp người học tiếp xúc với cấu trúc ngữ pháp và tích lũy kiến thức nền. Tuy nhiên, từ đó kết luận rằng đọc thành tiếng sẽ dẫn đến nói lưu loát thì… “em đi xa quá”.
Khi đọc, người học chỉ cần nhận diện chữ viết rồi chuyển thành âm thanh. Còn khi nói, não bộ phải đồng thời hình thành ý tưởng, lựa chọn từ vựng, xây dựng câu, theo dõi phản ứng của người nghe và điều chỉnh lời nói trong thời gian thực. Đây là hai quá trình nhận thức rất khác nhau.
Các nghiên cứu về fluency vì thế luôn phân biệt rõ **reading fluency** và **speaking fluency**. Người đọc trôi chảy chưa chắc đã là người nói lưu loát. Đọc nhiều chắc chắn giúp tạo nguyên liệu cho việc nói, nhưng khả năng giao tiếp chỉ phát triển khi người học thực sự tham gia vào các hoạt động giao tiếp có ý nghĩa.
PHẢI HỌC VỚI GIÁO VIÊN BẢN NGỮ?
Quan điểm “phải học với giáo viên bản ngữ” cũng không được các nghiên cứu hiện đại ủng hộ mạnh mẽ.
Điều quyết định chất lượng học tập không phải là quốc tịch của giáo viên mà là NĂNG LỰC NGÔN NGỮ và NĂNG LỰC SƯ PHẠM. Trong hơn ba thập kỷ qua, rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng giáo viên không bản ngữ được đào tạo bài bản hoàn toàn có thể đạt hiệu quả tương đương, thậm chí cao hơn giáo viên bản ngữ trong nhiều bối cảnh EFL.
Họ hiểu những khó khăn đặc thù của người học Việt Nam, biết vì sao học sinh thường bỏ âm cuối, nhầm các nguyên âm lỏng và căng (sit/seat) hay gặp khó khăn với các phụ âm như /θ/ và /ð/. Khả năng dự đoán lỗi và giải thích lỗi này là điều mà không phải giáo viên bản ngữ nào cũng có. Vì vậy, chất lượng giảng dạy phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và phương pháp hơn là việc giáo viên sinh ra ở Anh, Mỹ hay Việt Nam.
CÂN HỌC SỚM, ĐỪNG ĐỂ LỠ ĐỘ TUỔI VÀNG?
Khái niệm “độ tuổi vàng” nằm trong giả thuyết về CPH (Critical Period Hypothesis), cho rằng trẻ tiếp xúc tiếng Anh sớm thì có lợi hơn, đặc biệt là phát âm. Quan điểm này cũng cần được hiểu một cách thận trọng hơn.
Nếu mù quáng tin vào lý thuyết này mà không hiểu bản chất, phụ huynh có thể buộc con học ngoại ngữ từ sớm MẶC DÙ KHÔNG CÓ ĐIỀU KIỆN. Quang luôn bảo với các phụ huynh, cái trẻ cần chỉ là TIẾP XÚC SỚM VỚI NGÔN NGỮ qua việc xem phim hoạt hình tiếng Anh chẳng hạn thì rất tốt. Nhưng ĐƯA CON VÀO LỚP HỌC NGÔN NGỮ TỪ QUÁ SỚM thì Quang không khuyến khích.
Quang nhớ có đọc một vài nghiên cứu về chủ đề này, so sánh mức độ thành công của trẻ học tiếng Anh từ lớp 1 với trẻ học tiếng Anh từ lớp 6. Các nghiên cứu chỉ ra rằng KHÔNG CÓ KHÁC BIỆT ĐÁNG KỂ về các kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết) giữa trẻ bắt đầu sớm và muộn hơn khi lên đại học, NGOẠI TRỪ PHÁT ÂM.
Kết luận
Học tiếng Anh từ sớm, trẻ nhỏ có lợi thế trong việc bắt chước âm thanh, ít e ngại khi giao tiếp và có nhiều thời gian tích lũy ngôn ngữ. Tuy nhiên, có rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới thành công ngôn ngữ của trẻ như lượng đầu vào ngôn ngữ, chất lượng giảng dạy, động lực học tập và cơ hội sử dụng ngôn ngữ.
Có rất nhiều người bắt đầu học tiếng Anh ở tuổi trưởng thành nhưng vẫn đạt trình độ cao. Ngược lại, cũng có không ít trẻ học từ mẫu giáo suốt nhiều năm nhưng khả năng giao tiếp vẫn rất hạn chế
Tác giả: thầy Quang Nguyễn
